Phải Lạy Phật Trong Nội Tâm

Chúng ta ngày ngày tu Phật, song lại chẳng biết học theo vị Phật chân
chánh, mà chỉ vận dụng công phu trên hình tướng bên ngoài, không truy
tìm nguồn gốc của Phật trong tự tánh. Tìm nguồn gốc của Phật tức là đoạn
sạch hết thảy tư dục (những ham muốn riêng tư) để hiển lộ trí huệ quang
minh vốn có. Có tư dục thì không có trí huệ, có trí huệ thì không có tư
dục—trí huệ không thể tách rời tư dục, tư dục không thể tách rời trí
huệ.
Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật
Giáo Việt Nam Net)
Tâm chỉ niệm tuyệt, chân phú quý,

Tư dục đoạn tận, chân phước điền.”

(Tâm dừng niệm bặt, giàu sang thật

Tư dục đoạn sạch, ruộng phước thật.)

Phiền não chính là Bồ Đề, sanh tử chính là Niết Bàn; nếu quý vị có
thể trong phiền não mà không sanh phiền não, thì quý vị sẽ có tâm Bồ
Đề. Quý vị muốn chấm dứt sanh tử, thì quý vị đừng tạo thêm sanh tử nữa;
và đó chính là Niết Bàn. Người người đều có sanh, do đó ai nấy đều có
tử. Nếu quý vị có thể cắt đứt tư dục, thì sự sanh tử của quý vị cũng sẽ
chấm dứt theo; tư dục của quý vị chưa dứt sạch, thì sự sanh tử của quý
vị chưa thể kết thúc được!

“Tư” là riêng tư, điều mà chỉ một mình mình biết chứ người khác
không thể nào biết được. Người có lòng tư dục chỉ muốn phô bày cái tốt
ra cho người khác biết, còn cái xấu thì che đậy giấu giếm, hy vọng như
thế sẽ làm cho người khác có cảm tưởng tốt về mình. Tư dục xui khiến quý
vị nói dối, điên đảo thị phi, không phân biệt được thẳng cong phải
trái, trắng đen hỗn loạn—tất cả chỉ vì quý vị để cho lòng tư dục chi
phối, sai khiến.

Nếu quý vị không có tư dục thì trí huệ quang minh vốn có của quý
vị sẽ hiển hiện, bất tất phải tìm kiếm bên ngoài, mà tự mình tìm cầu nơi
chính mình. Chúng ta sống ở cõi đời này, mọi cử chỉ hành động, lời nói
việc làm, đều cần phải phản tỉnh, phải quay lại tìm cầu nơi chính mình.

Quý vị cần phải: “Những gì mình không muốn thì chớ đem cho người
khác.” Những gì chính bản thân quý vị không thích thì cũng đừng đem trút
lên đầu lên cổ người khác. Cổ nhân có nói:

“Nhân tuy chí ngu,

trách nhân tắc minh,

thứ kỷ tắc hôn.”

Có nghĩa là người ta tuy ngu xuẩn đến cực điểm, nhưng đối với thói
hư tật xấu của kẻ khác thì lại có thể kể ra rất rõ ràng, rành rẽ. Người
ấy nói chuyện thị phi của kẻ khác thì thao thao bất tuyệt, có bài có
bản, “biện tài vô ngại”; nhưng đối với việc của chính mình thì lại mê
muội hồ đồ, tùy tiện cẩu thả, không thể biện biệt rõ ràng, phạm sai sót
cũng chẳng quan tâm, thậm chí còn che giấu lỗi lầm nữa—đây là do bị lòng
tư dục chi phối, xúi giục, khiến người ấy gây ra những điều sai trái,
và luôn luôn tự tha thứ cho chính mình!

“Cẩu hữu thông minh

dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ,

dĩ thứ kỷ chi tâm thứ nhân,

hà hoạn bất chí Thánh Hiền địa vị.”

tức là nếu người thông minh, lấy tâm trách người để trách mình,
lấy tâm tha thứ mình để tha thứ người, thì lo gì chẳng đạt được địa vị
của Thánh Hiền!

Giả sử quý vị thật sự có thông minh tài trí, có thể “lấy tâm trách
người để trách mình”—tức là biết phản tỉnh, quay lại tìm cầu ở chính
mình, dùng lòng khoan dung tha thứ cho chính mình mà khoan dung tha thứ
cho người khác—lại có thể “những gì mình không muốn thì chớ đem cho
người khác,” và thấy việc nghĩa thì dũng cảm đứng ra gánh vác; như thế,
nhất định quý vị sẽ đạt được địa vị của Thánh Hiền; thậm chí nếu quý vị
làm việc chân chánh nữa, thì sẽ được “tức thân thành Phật.”

Cho nên, này quý vị! Quý vị hướng về vị Phật ở bên ngoài mà đảnh
lễ, thì chẳng bằng hướng về vị Phật của chính mình mà đảnh lễ! Quý vị
cần phải cung kính đối với chính mình, thời thời khắc khắc đều giống như
đối với Phật, hoặc như đối với Bồ Tát Quán Thế Âm vậy—có như thế thì
mới là chân chánh lạy Phật, chân chánh lạy sám hối, và chân chánh niệm
Phật. Trái lại, nếu quý vị không như thế, thì quý vị chỉ là học những
“lời cửa miệng,” người ta nói sao thì mình lặp lại y như vậy—người ta
lạy Phật thì mình cũng lạy Phật, người ta niệm Phật thì mình cũng niệm
Phật, người ta ăn cơm thì mình cũng ăn cơm; thế nhưng, việc sanh tử của
người ta thì mình không thể nào chấm dứt được!

Quý vị cần phải “chân dẫm trên đất thật,” cần phải chân chánh thực
hành. Tôi nghe kể rằng lúc trước tại Đài Loan có một vị Tỳ Kheo Ni tên
là Phước Huệ. Vị Tỳ Khưu Ni này, năm hai mươi tuổi thì kết hôn và sanh
được hai người con; đến năm cô hai mươi lăm tuổi thì chồng chết. Nhìn
thấu chuyện hồng trần, cô bèn xuất gia đi tu. Cô không ăn thức ngon,
chẳng mặc đồ tốt, cũng chẳng ở nhà cao cửa rộng; mà thường lui tới các
chùa chiền để làm công việc lau chùi quét dọn, lại chẳng cho ai biết họ
tên mình là gì cả. Cô thường hay bố thí nước “Đại Bi” cho người ta để
chữa bệnh; đã không nói chuyện, cũng chẳng nhận tiền; cứ như thế mà tu
hành. Quý vị phải tu hành như thế thì mới là chân chánh tu hành; bằng
không thì chùa dù to, tiền dù nhiều, nhưng sanh tử vẫn chẳng thể dứt
được!

Cho nên, quý vị có bổn phận phải vận dụng công phu, xem tâm tham
của mình đã bị trừ khử chưa, tâm sân đã bị loại bỏ chưa, và tâm si đã bị
quét sạch chưa.

Người xuất gia chúng ta cần phải:

Siêng tu Giới, Định, Huệ,

Dứt sạch tham, sân, si.

Thế thì, rốt cuộc quý vị có làm được chăng? Nếu làm được, thì mới
không hoài phí một kiếp được làm người, không uổng công một phen xuất
gia, và không phải là một đệ tử vô dụng của Phật!

Chúng ta cần phải “hồi quang phản chiếu,” trở về tìm lại nơi chính
mình. Muốn quay ngược lại để tìm cầu công phu nơi chính mình thì phải:

Thật nhận nơi mình sai,

Đừng nói lỗi của người,

Lỗi người là lỗi mình,

Đồng thể tức Đại Bi.

Vì sao tôi nói như thế? Vì tôi gặp rất nhiều người bị bệnh tật,
đặc biệt là những người mắc phải các chứng bệnh lạ lùng kỳ quái. Những
người này khi cơn bệnh hoành hành thì “oán trời trách người”—trách móc
ông Trời không được công bằng: “Tại sao chỉ khiến một mình tôi mắc bệnh?
Tại sao không bắt những người khác bị bệnh?” Họ chỉ biết sanh lòng phẫn
hận bất bình như thế, mà không biết rằng đó chẳng qua đều là “tiền
nhân, hậu quả” cả! Bởi đời trước họ đã giết hại quá nhiều sinh vật—đi
săn, đi câu, đi đánh cá, giết gà, giết bò, giết dê, giết chó… —chính vì
họ đã sát sanh quá nhiều, cho nên trong đời hiện tại này họ mới bị mắc
phải nhiều chứng bệnh kỳ quái như thế!

(Hòa Thượng Tuyên Hóa
giảng ngày 11 tháng 10 năm 1989, tại thành phố Hoa Liên, Đài
Loan)

Xem thêm: https://www.thuyetphap.net/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment